Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng từng khẳng định: “Không thể tăng trưởng với 2 con số bằng cách làm cũ”. Theo Bộ Tài chính, ở nước ta, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) chiếm khoảng 98%. Như vậy, mục tiêu tăng trưởng với 2 con số phải trông cậy vào các DNVVN là chính và để hoàn thành nhiệm vụ đó, hơn 1 triệu doanh nghiệp (DN) phải thay đổi cách làm. Vấn đề là thay đổi như thế nào? Bài này, chúng tôi chia sẻ một cách tiếp cận vấn đề và kết quả thực tế để các doanh nghiệp tham khảo.
Trước tiên, chúng ta cần xác định điểm khởi đầu: Cách làm cũ là gì, có những đặc điểm và hạn chế gì. Sau đó, xác định hướng chọn cách làm mới, phương pháp triển khai theo cách làm mới và tham khảo các trường hợp thành công theo cách làm mới để rút ra bài học cho mình.
Cách làm kinh tế hiện nay của hầu hết các DN ở nước ta là phát triển kinh tế tuyến tính (linear economy): Nền kinh tế vận hành theo đường thẳng “Khai thác tài nguyên – Sản xuất – Tiêu thụ – Vứt bỏ”. Cách làm này tiêu tốn nhiều tài nguyên, năng suất lao động (NSLĐ) thấp, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng (GTGT) thấp và gây ô nhiễm môi trường nặng nề. Theo cách làm này, dù có thực hành tiết kiệm tài nguyên đến bao nhiêu, cải tiến quy trình sản xuất đến thế nào cũng không thể tăng trưởng với 2 con số. Nguy hiểm hơn, nếu vẫn duy trì cách làm này thì nền kinh tế ngày càng tụt hậu, dần dần nước ta trở thành thị trường tiêu thụ sản phẩm cho người khác. Nguyên nhân nằm ở bản chất của phương thức sản xuất (PTSX) đã lỗi thời: PTSX thủ công – bán tự động.

Cách làm mới hướng tới khắc phục triệt để những yếu kém, hạn chế của cách làm cũ: Tiết kiệm tài nguyên, nâng cao NSLĐ, tạo ra GTGT cao, giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường. Cách làm mới này không hình thành dựa trên việc cải tiến, chỉnh sửa cách làm cũ mà là sáng tạo ra cách làm hoàn toàn mới, trong đó có 2 nội hàm cực kỳ quan trọng là tuần hoàn hóa và số hóa.
Nội hàm thứ nhất: Thực hành tuần hoàn hóa mọi loại tài nguyên được sử dụng trong quá trình sản xuất nhằm kéo dài vòng đời của sản phẩm, sử dụng đầu ra của quá trình sản xuất này làm đầu vào của quá trình sản xuất khác dựa trên ứng dụng các công nghệ cao. Kết quả đạt được là tiết kiệm tài nguyên, NSLĐ tăng cao, tạo ra sản phẩm có GTGT cao và giảm thiểu thải chất thải ra môi trường. Đó là nguyên lý vận hành của kinh tế tuần hoàn (circular economy). Tuần hoàn hóa là giải pháp cơ bản cho mục tiêu tăng trưởng xanh mà cả thế giới hướng đến nhằm phát triển bền vững và được quy chuẩn thành yêu cầu phải đạt cho các mặt hàng xuất khẩu của các quốc gia.

Minh họa kinh tế tuần hoàn (Nguồn: Solar Power)
Nội hàm thứ hai: Số hóa quy trình sản xuất (digitalizing the production process) không phải thực hiện trên quy trình sản xuất cũ (tuyến tính) mà là trên quy trình sản xuất mới (tuần hoàn). Đây là quá trình chuyển đổi quy trình sản xuất tuần hoàn do con người thực hiện thành quy trình sản xuất tuần hoàn do máy thực hiện. Quá trình chuyển đổi này làm hình thành một PTSX mới: PTSX số. Nền kinh tế vận hành PTSX số gọi là nền kinh tế số. Các DN sản xuất theo PTSX số gọi là các DN số.
Tóm lại, các DN phải chuyển từ sản xuất theo mô hình kinh tế tuyến tính sang mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế số. Phát triển kinh tế tuần hoàn nhằm mục tiêu tăng trưởng xanh và tiết kiệm tài nguyên. Phát triển kinh tế số nhằm thay đổi PTSX, vươn lên một đẳng cấp mới cao hơn nhiều so với hiện nay và là con đường duy nhất tránh tụt hậu trong kỷ nguyên số, kỷ nguyên AI. Công cuộc vươn mình của quốc gia chắc chắn đi theo con đường này.

Minh họa kinh tế số (Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ)
Trong giai đoạn phát triển hiện nay (2026 – 2030) công nghệ phát triển vô cùng nhanh (đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), nhanh tới mức công nghệ mới xuất hiện chưa kịp lan tỏa rộng rãi (như AI tạo sinh – Generative AI) thì công nghệ mới hơn đã hình thành và nhanh chóng phát huy sức mạnh (như tác nhân AI – AI agents – còn gọi là AI vật lý). Trong bối cảnh đó, việc chuyển giao công nghệ, đặc biệt là các công nghệ áp dụng vào quy trình sản xuất buộc phải thay đổi. Các DN muốn thay đổi để tồn tại, không phải để thí nghiệm. Vì thế, họ cần cách tiếp cận mới: Trước tiên là nhận thức, tiếp đến là chọn sân chơi, sau đó là thực hành như một ứng viên DN số và trưởng thành trong hệ sinh thái kinh tế số.
Nhận thức: DN cần nhận thức đúng về chuyển đổi số (CĐS), đó không phải là quá trình tin học hóa toàn diện mà là quá trình chuyển đổi từ PTSX thủ công – bán tự động sang PTSX số. Quá trình này mang lại nhiều ưu việt: Tăng NSLĐ, tăng doanh số và lợi nhuận, tăng sức cạnh tranh, có mức tăng trưởng cao, có tính minh bạch tuyệt đối và khả năng phát huy tiềm lực cao. Tuy nhiên, nó cũng dẫn đến các thách thức: Thay đổi cấu trúc tổ chức, giảm nhân lực cả trong sản xuất lẫn quản lý, thay đổi chính sách,… Và đặt ra các yêu cầu: Trang bị hạ tầng số, đào tạo nhân lực số, xây dựng chính sách số, vận hành PTSX số,… Đây là bài toán đặt ra cho chủ DN. Nhận thức đầy đủ về những nội dung này, DN mới có thể chủ động chọn sân chơi cho mình.
Chọn sân chơi: Ngày nay, để phát triển sản xuất kinh doanh cần áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến khác nhau và chúng liên tục được nâng cấp, thay thế. Vì vậy, từng DN đơn lẻ (nhất là DN nhỏ và vừa) không thể tự trang bị tất cả cho mình mà buộc phải lựa chọn một sân chơi phù hợp. Ở mức thấp, là chọn một nền tảng số phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình. Ở mức cao là tham gia một hệ sinh thái kinh tế số hoàn chỉnh. Những nền tảng số phổ biến hiện nay thường cung cấp một số chức năng số hóa. Ví dụ, hỗ trợ tiếp thị, chăm sóc khách hàng, số hóa dữ liệu, số hóa quy trình, quản lý nguồn lực, đào tạo,… Khi mới bắt đầu, nhiều DN chọn tiếp cận các nền tảng số này để làm quen cách làm việc trong môi trường số. Tuy vậy, cũng có một số ít DN chọn tham gia ngay một hệ sinh thái kinh tế số hoàn chỉnh khi có cơ hội để trải nghiệm và khi vượt qua, thời gian chuyển đổi thành DN số sẽ rút ngắn rất nhiều.
Thực hành để trở thành DN số: Tham gia một hệ sinh thái kinh tế số là con đường đạt trưởng thành số nhanh nhất, lúc đó, DN sẽ nhận ngay được những hỗ trợ từ hệ sinh thái. Ví dụ, một số DN Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng số – có tên là MAIN – cung cấp các chi tiết và cấu kiện cơ khí cho đối tác có trụ sở ở Houston, Hoa Kỳ được kết nối thẳng vào hệ thống quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng từ quy trình sản xuất sản phẩm, xuất xưởng, lưu kho, vận tải đến giao hàng, thanh toán,… Mọi hoạt động từ thu thập dữ liệu, xử lý tính toán, cập nhật trạng thái, báo cáo tổng hợp, kế toán, hạch toán…. đều do hệ thống đảm nhiệm. Trong hệ thống này, đầu mối phía Mỹ đảm bảo các đơn đặt hàng và thanh toán theo hợp đồng, các nhà sản xuất tập trung vào sản xuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm, còn lại hệ thống tự vận hành. Các bên tham gia có thể “nhìn thấy” trạng thái của toàn chuỗi và phối hợp cùng nhau theo thời gian thực.
Thời gian đầu, các DN tham gia chuỗi còn lúng túng trong việc làm quen với cách làm mới và có cảm giác không yên tâm vì không có các bộ phận hành chính quản trị hỗ trợ (như kế toán, đốc công,…) nhưng khi vào cuộc, tra gì cũng có một cách minh bạch, bao gồm cả thưởng, phạt và dự báo thị trường nên yên tâm và quen dần. Độ trưởng thành số của họ tăng theo thời gian và theo tiến độ đổi mới công nghệ của từng DN. Lúc đầu họ tiếp tục sử dụng các máy công cụ cũ được gắn thêm cơ chế chấp hành tự động kết nối vào hệ thống. Sau đó, họ thay thế dần chúng bằng các máy móc cơ khí tiên tiến (như digital CNC) hướng tới hệ thống sản xuất tự vận hành (autonomous system). Tùy khả năng của từng DN, quá trình này có thể diễn ra trong vài năm hay cả chục năm, nhưng hướng đi thì không đổi.

Các giao diện hệ thống (đang hoạt động) để minh họa chuỗi cung ứng số MAIN
Tham gia sân chơi mới, các DN phải tuân thủ luật chơi mới, rèn luyện kỹ năng mới, làm theo cách làm mới, nhưng kết quả chắc chắn được đảm bảo nếu làm đúng.
Ngày nay, không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giới, khái niệm “Chuyển đổi số”, “Kinh tế số”, “doanh nghiệp số”,… vẫn còn được hiểu theo cách khác nhau. Không ít người cho rằng tin học hóa toàn diện lấy ERP làm trung tâm là CĐS thành công. Những người khác lại khẳng định chỉ có con đường số hóa quy trình sản xuất hướng tới nền sản xuất tự vận hành mới là mục tiêu CĐS đích thực. Vậy ai đúng? Ai làm theo cách cũ còn ai làm theo cách mới? Để các DN chọn làm, tốt nhất là giúp họ tham khảo những ví dụ thực tế.
a/ Ví dụ ngoài nước – Những thành công mà một số quốc gia đã đạt được trong quá trình CĐS theo tinh thần Industry 4.0 được đánh giá là “ngoài sức tưởng tượng” như “Cánh đồng tự canh tác”, “Bến cảng tự bốc xếp”, “Hầm mỏ tự khai thác” và “Người máy Optimus” là những ví dụ điển hình.
Cánh đồng tự canh tác: Mô hình đầu tiên xuất hiện tại phía Nam Thượng Hải, Trung Quốc vào năm 2023: Việc cày, bừa, cấy lúa, chăm sóc, thu hoạch,… tất cả đều do máy thực hiện trên diện tích 20 ha. Ở đó chỉ có 2 người làm việc trong Phòng điều hành để hướng dẫn cho máy móc thiết bị điều chỉnh chế độ vận hành nếu cần thiết. Sau khi rút kinh nghiệm, mô hình này được nhân rộng ở Trung Quốc từ năm 2025 với việc sử dụng cơ chế điều khiển sản xuất thông minh bởi tác nhân AI. Đây là lần đầu tiên con người chứng kiến cách “làm nông hoàn toàn tự động”.
Bến cảng tự bốc xếp: Đề án xây dựng cảng thông minh (smart port) xuất hiện khá sớm (tháng 10 năm 2019) là tại Tuas, Singapore với mục tiêu tự điều khiển tàu cập cảng, tự bốc, xếp hàng hóa, bắt đầu khái thác từ 2030 và hoàn thành vào 2040. Tuy nhiên, mô hình cảng thông minh xuất hiện đầu tiên lại là cảng Thiên Tân ở Trung Quốc vào năm 2023. Nhờ tự động hóa ở mức cao, cảng Thiên Tân đã giảm được thời gian bốc/dỡ hàng trung bình cho một con tàu từ 8 giờ xuống 40 phút. Tiếp ngay sau là hàng loạt cảng thông minh xuất hiện với cấp độ thông minh cao hơn nhờ ứng dụng các tác nhân AI, nổi bật nhất (2026) là cảng Thanh Đảo, Trung Quốc.
Hầm mỏ tự khai thác: Khai thác mỏ là nghề lâu đời và nguy hiểm nhất đối với tính mạng con người. Việc tự động hóa khai thác mỏ không chỉ mang lại NSLĐ cao, hiệu quả kinh tế cao mà còn bảo vệ sức khỏe của người lao động và giảm tác động xấu lên môi trường. Nhờ ứng dụng công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ IoT và AI, một số quốc gia tiên tiến đã triển khai xây dựng mỏ thông minh, mỏ tự vận hành và đã đạt được những kết quả ngoai mong đợi, làm thay đổi hoàn toàn khái niệm “khai thác mỏ” từ ngàn năm qua, trong đó, Trung Quốc là quôc gia điển hình trong lĩnh vực này.
Optimus: Dự án phát triển 40 tỷ robots hình người (tên là Optimus) để phục vụ 10 tỷ người vào năm 2030 của hãng Tesla, Hoa Kỳ làm thay đổi căn bản mọi khái niệm của xã hội: Các Optimus có thể nấu ăn, chăm sóc người già, bệnh nhân, lái xe, dạy học, huấn luyện, thực hiện những nhiệm vụ khó,… Optimus có thể học toàn bộ kiến thức của nhân loại tích tụ trong 20 năm trong vài chục phút và không ngừng làm giàu kho kiến thức đó thông qua các hoạt động thực tế. Điều này làm thay đổi hoàn toàn phương pháp giáo dục, đào tạo của loài người đã có từ hàng ngàn năm nay. Không phải nền giáo dục sẽ biến mất mà cách giáo dục phải thay đổi, trong đó, cá nhân hóa năng lực tiếp thu kiến thức để sáng tạo được đề cao vì AI chỉ tập hợp được những kiến thức đã công bố. AI chưa có khả năng tư duy như con người.
b/ Ví dụ trong nước – Vì nhiều lý do, các kết quả CĐS nhằm tạo ra PTSX số và triển khai thành công trong thực tế ở nước ta còn hạn chế. Dưới đây là một vài trường hợp.
Chuỗi cung ứng số: Chuỗi cung ứng số (digital supply chain) có tên là MAIN giới thiệu trên đây là sản phẩm của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Chuỗi này hoạt động trên hệ điều hành VSYS IoT OS, thu thập dữ liệu tự động trên mọi công đoạn (từ sản xuất đến giao hàng, thanh toán), điều khiển bởi tác nhân AI trên nền tảng cung cấp dịch vụ tự động ROSA (Robotics Operation Service AI agent). Chuỗi MAIN hoạt động ổn định từ 2025 đến nay trong thị trường logistics cung ứng cấu kiện cơ khí Việt Nam – Hoa Kỳ.
Mạng lưới lò đốt sinh khối sấy nông sản được kiểm soát tự động: Lò đốt sinh khối sử dụng các hợp chất hữu cơ (lá cây, rác hữu cơ,…) làm đầu vào, ủ sinh khối thành gas sinh học dùng để đốt tạo nhiệt sấy nông sản (sao trà, sấy lúa,…). Mỗi lò được gắn hệ thống kiểm soát tự động đo nhiệt độ, khối lượng khí sinh khối, khối lượng nông sản được sấy và lượng phát thải carbon tương đương. Các lò được kết nối với nhau qua Internet vào một hệ thống chung. Vì thế, hệ thống có thể kiểm soát được chế độ hoạt động của tất cả các lò đốt theo thời gian thực. Nhà đầu tư không chỉ bán được hệ thống sấy thân thiện với môi trường cho các cơ sở sấy nông sản (nhiều nhất là sấy trà) mà còn bán được chứng chỉ carbon do được đo chính xác bằng IoT chứ không phải ước tính theo phương pháp truyền thống.
Logistics số: Logistics là các dịch vụ cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất và chuyển đầu ra của quá trình này (sản phẩm, dịch vụ) tới người tiêu thụ. Dòng hàng hóa này luôn luôn đi qua các kho (kho sản phẩm, kho trung chuyển, kho giao hàng,…). Vì thế, việc thiết kế và vận hành các kho số (digital wherehouses), kho thông minh (smart wherehouses) giúp kiểm soát được dòng hàng hóa này (bên cạnh dòng tài chính và dòng thông tin). Ngày nay, với các nền tảng như ADARA (AI driven Adaptive Realtime Automation – Tự động hóa thích ứng thời gian thực dựa trên AI) hay ROSA, việc thiết kế và vận hành kho số trở nên đơn giản và có thể thực hiện nhanh chóng với chi phí thấp.
Mạng lưới thương mại số D2C: Khi nhà sản xuất bán được sản phẩm của mình trực tiếp đến tay người tiêu dùng thì nhiều cái lợi phát sinh: Nhà sản xuất bán được với giá cao hơn so với bán qua đại lý (yếu tố thúc đẩy sản xuất), người tiêu dùng mua được với giá thấp hơn so với mua ngoài chợ hay siêu thị (yếu tố nâng cao chất lượng đời sống người dân), nhà nước thu được thuế đầy đủ hơn nhờ dữ liệu minh bạch (yếu tố hỗ trợ phát triển chính quyền số),… Vì những lợi ích rõ rệt này, nhiều quốc gia đang chuyển đổi mô hình thương mại truyền thống sang thương mại số, trong lĩnh vực bán lẻ là mô hình D2C (Direct to Consumers – Bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng). Ở nước ta, một vài mô hình như thế đã được xây dựng và đang vận hành, ví dụ, mô hình D2C bán nông sản cho người tiêu dùng hay mô hình cung cấp vật tư tiêu hao cho các nhà sản xuất.
Tất cả các ví dụ trên (cả trong và ngoài nước), dù có mức độ thành công khác nhau, đều áp dụng chung một nguyên tắc “Mọi quy trình, dù phức tạp đến đâu cũng có thể phân rã thành các công đoạn đơn giản và chuyển các công đoạn đơn giản đó thành tự động”. Ngày nay, nhờ ứng dụng các công nghệ số tiên tiến, đặc biệt là IoT và AI agent, việc này trở nên dễ dàng. Đến đây, chắc chắn các DN đã nhận ra cách làm mới nên chọn.
Cách làm mới không dựa trên việc cải tiến cách làm cũ mà là sáng tạo ra cách làm hoàn toàn mới, mới từ tư duy (như lường trước vòng đời tiếp theo của sản phẩm ngay từ khâu thiết kế), đến thực hành và yếu tố đảm bảo thành công là dựa vào các công nghệ tiên tiến mà trước đây chưa có hoặc có nhưng chưa chín muồi. Trong bối cảnh đó, DNVVN không thể tự đi một mình mà phải đi cùng các đối tác trong hệ sinh thái số.
| Hệ sinh thái kinh tế số bao gồm tất cả các thành phần tham gia kiến tạo và phát triển kinh tế số: chính quyền (định hướng, hạ tầng, chính sách), doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ), viện, trường, chuyên gia (giải pháp khoa học, công nghệ, đào tạo), người tiêu dùng (tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ),… |
Sự vươn mình không chỉ tập trung vào tăng trưởng 2 con số (dù con số đầu khác 1) mà quan trọng hơn là ở việc thay đổi PTSX của toàn xã hội: phải phổ cập PTSX số để không bị tụt hậu. Hơn ai hết, DNVVN hiểu thấu điều này vì họ chỉ có 2 lựa chọn: Tồn tại trong kỷ nguyên số hay bị đào thải.
Viettel đã chính thức phát động cuộc thi Viettel AI Race 2026, sân chơi công nghệ quy mô toàn quốc. Năm nay, các đội xuất sắc sẽ được tiếp cận dữ liệu thực tế, làm việc trực tiếp với chuyên gia và giải quyết những bài toán đang đặt ra trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Viettel.
NTQ Solution vừa công bố những kết quả tích cực sau quá trình triển khai Kiro – công cụ phát triển phần mềm tích hợp AI của Amazon Web Services (AWS). Qua đó ghi nhận những tác động đáng kể tới chiến lược thúc đẩy ứng dụng Generative AI (GenAI) trong nâng cao năng lực tổng thể của doanh nghiệp.
Thay vì phải đi qua nhiều bước kết nối rời rạc và phức tạp như trước, người dùng có thể hoàn tất nhanh chóng với một bước quét QR đơn giản.
Noventiq, đối tác tư vấn dịch vụ đám mây cấp Premier của Amazon Web Services (AWS) vừa công bố đã triển khai thành công chương trình bảo mật đám mây toàn diện cho Softel Solutions – doanh nghiệp chuyên cung cấp giải pháp phần mềm viễn thông tại Việt Nam.
Ngày 27/6/2026, tại Hội nghị triển khai các nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế số, xã hội số trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Viettel giới thiệu mô hình chuyển đổi số địa phương toàn diện, kết hợp đồng bộ ba trụ cột Chính quyền số – Kinh tế số – Xã hội số trên cùng một hệ sinh thái số.
Ngày 26/6/2026, UBND TP Hà Nội và Tập đoàn Công nghệ CMC ký thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026-2030, tập trung vào chuyển đổi số, chuyển đổi AI, hạ tầng số và đổi mới sáng tạo.
Huawei đã chính thức tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Đối tác Đông Nam Á (Huawei SEA Partner Summit 2026) tại TPHCM, với chủ đề Hợp tác để khai phóng tương lai xanh và thông minh – Partnering To Ignite The Intelligent & Green Future, cùng sự tham gia của hơn 300 đối tác chiến lược và lãnh đạo công nghệ hàng đầu khu vực.
Với việc được Văn phòng Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) cấp thêm bằng sáng chế mới cho phương pháp “Nhận diện khuôn mặt có đeo khẩu trang qua hình ảnh sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo”, Viettel AI đã sở hữu hai bằng sáng chế được bảo hộ tại Hoa Kỳ chỉ trong nửa đầu năm 2026.
Khoản đầu tư mới sẽ giúp công ty mở rộng sang mảng Autonomous Finance (tài chính tự vận hành) và Agentic Commerce (thương mại tự động qua tác nhân AI) trên hành trình chinh phục cột mốc doanh thu tỷ USD tiếp theo
Sự kiện đánh dấu bước tiến đầu tiên trong định hướng phát triển mới của Vietnamobile, với trọng tâm nghiên cứu và phát triển các giải pháp công nghệ có tính ứng dụng thực tiễn, phù hợp với nhu cầu và khả năng triển khai của doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) tại Việt Nam.